Kinh về đạo đức

BỘ KINH THỨ 1 – KINH TIỂU SỬ ĐỨC PHẬT

55
phat-phap-nhiem-mau-phap-am

BỒ-TÁT GIÁNG THẾ  

[Những điều sau đây là lời tự truyện  của chính đức Phật về cuộc đời ngài,  được ghi lại trong kinh điển Pali. Làm đệ  tử Phật cần nên ghi nhớ, tôn thờ chớ quên. 

: BỘ KINH THỨ 1 – KINH TIỂU SỬ ĐỨC PHẬT

Đức Phật sinh vào ngày Rằm tháng 4,  năm 624 trước Tây lịch. Cha đức Phật  là đức vua Tịnh Phạn, mẹ đức Phật là  hoàng hậu Ma-ya]. O 

Lời ngài A-nan: “Kính bạch Thế Tôn,  con tận mặt nghe, ghi nhớ rõ ràng, lời  của ngài kể”: “Này Ananda, Như Lai  xuất hiện trên cõi đời này là điều hy hữu.  Đầu tiên Ta ở cõi trời Đâu-suất đến hết  thọ mạng, sau đó hạ sinh từ trời Đâu suất, nhập vào bào thai thánh hậu Ma-ya. 

Trong giờ phút đó, hào quang chiếu soi,  rực rỡ lạ kỳ, sáng hơn nhật nguyệt, thế  giới chuyển động chào đón Như Lai”. 

“Lúc Ta nhập thai, có bốn thiên tử canh gác bốn phương, không để người nào gây  tạo phiền nhiễu. Mẹ mang thai Ta đúng  tròn mười tháng. Từ lúc mang thai, mẫu  hậu của Ta giới hạnh thanh cao, lòng từ  rộng mở, không có dục tâm với bất kỳ ai.” 

“Trong lúc mang thai, mẹ Ta hoan hỷ,  khoan khoái, an vui, sức khỏe tốt hơn,  không chút bệnh tật. Mẹ Ta cảm nhận Ta  là thánh nhi, như viên ngọc quý không  chút tỳ vết, tuyệt hảo trên đời”. O 

“Khi sinh ra Ta, mẹ Ta sinh đứng. Sinh  chưa chạm đất thì có chư thiên nghênh  tiếp đón ta, rồi dâng thân Ta lên mẫu hậu  ta, với lời tán dương: “Thánh hậu đã sinh  một bậc vĩ nhân”.  

“Thân thể của Ta lúc vừa sinh ra không bị ô nhiễm bởi nước ối, máu, hoàn toàn  trong sạch, như ngọc ma-ni, trong sáng,  đẹp màu. Từ trên hư không có hai dòng  nước, một nóng, một lạnh phun tắm cho  Ta và cho mẫu hậu”. 

“Vừa mới sinh ra, Ta đứng vững vàng  trên đôi chân mình, mặt hướng phía Bắc,  bước đi bảy bước, với lọng trắng che, Ta  thốt lên lời: “Ta là tối thượng trên cõi  đời này, đây là kiếp sống cuối cùng của  ta, Ta không tái sinh vào cõi đời nữa”. 

“Tròn bảy ngày sau, mẹ Ta qua đời,  liền tái sinh về cõi trời Đâu-suất”.(1)

TIÊN TRI ĐOÁN TƯỚNG 

“Vào lúc bấy giờ, có vị đạo sĩ tên A-tư đà, giữa ngay ban ngày, thấy các chư  thiên cõi trời Ba Ba hoan hỷ, tán thán,  khởi tấu nhạc trời, du dương ca hát với  các vũ điệu và báo lời rằng: Tại Lum-bi

ni, làng của Thích-ca, có vị Bồ-tát không  ai sánh bằng, vừa được giáng trần, hạnh  phúc cho đời. Ngài là tối thượng, là bậc  ngưu vương, đứng đầu loài người. Về sau  xuất gia, trở thành ẩn sĩ, ngài chuyển Pháp  luân, rống tiếng Sư tử, giáo hóa cuộc đời”. 

“Nghe biết sự việc, ngài A-tư-đà liền  đến hoàng thành Ca-tỳ-la-vệ, mong  được yết kiến thái tử sơ sinh. Vừa gặp  tôn nhan băm hai tướng hảo, ông thốt  lên lời: “Thái tử vô thượng, là người số  một trong loài hai chân”. Nói xong ông  khóc, buồn số phận mình, nay đã già nua,  không còn cơ hội, gặp được thái tử, để  chứng kiến cảnh thái tử giác ngộ. Ông  khẳng định rằng, đến tuổi trưởng thành,  thái tử xuất gia, thành bậc Giác ngộ số  một ở đời, chuyển bánh xe pháp, thanh  tịnh tối thắng, vì lòng từ bi, thương xót  chúng sinh, giúp đời lợi lạc”.(2)

KHÔNG MÀNG HƯỞNG THỤ 

“Này các đệ tử, ở trong hoàng cung, Ta  được nuôi dưỡng vô cùng đặc biệt. Phụ  vương của Ta cho xây ao hồ, có ao sen  xanh, có ao sen đỏ, có ao sen trắng. Những  gì Ta cần, đều được phục vụ rất là tận tình  và thật chu đáo. Các loại chiên-đàn, hương  liệu cao cấp, lụa Kasi quý, Ta đều sử dụng.  Cả ngày lẫn đêm luôn có lọng che, tránh  khỏi nóng, lạnh, bụi bặm và sương”. 

“Về các tiện nghi, phụ vương xây dựng  ba lâu đài đẹp, một cho mùa đông,  một cho mùa hạ, một cho mùa mưa,  tiện nghi đầy đủ, sang trọng, quý phái.  Trong bốn tháng hè, lúc nào cũng có  các nữ nhạc công xoay quanh phục vụ  ca, múa, xướng, hát”. 

“Dù sống trong cảnh giàu sang, sung  sướng bậc nhất trần đời, Ta suy nghĩ  rằng: “Phàm phu ít nghe, khi mình bị  già, hoặc thấy người già, bực phiền, hổ thẹn, ghê tởm, chán ngán. Ta ý thức được  Ta cũng bị già, không vượt khỏi già. Ta  cũng bị chết, không vượt khỏi chết. Nhờ suy  nghĩ này, kiêu mạn tuổi trẻ, kiêu mạn sự sống  đoạn trừ nơi Ta… Thật không xứng đáng cho  Ta mê đắm. Quyết tâm từ bỏ, Ta đi xuất gia,  tầm cầu giải thoát cho mình và người”.(3) O

TỪ BỎ, XUẤT GIA 

“Này các đệ tử, Ta nhận thức rõ đời  sống gia đình tụ hội bụi đời, trong khi  xuất gia thoáng rộng như trời, nên Ta  quyết chí, buông bỏ ngai vàng, vợ đẹp,  con thơ, xuất gia cầu đạo, từ bỏ nghiệp  phàm với nhiều chướng lụy. Ta đến  Vương xá, nước Ma-kiệt-đà sống đời  khất sĩ. Đức vua Bình-sa nhìn thấy thân  Ta đẹp, cao, rạng rỡ, thong dong chánh  niệm, liền cho sứ giả dõi bước theo ta,  quan sát xong rồi trở về trình báo”. 

“Vừa nghe câu chuyện, đức vua Bình sa vội lên cỗ xe, đến yết kiến ta. Ta cho  Vua biết nguyên nhân đi tu của Ta là do  Ta không tha thiết hưởng thụ dục lạc; Ta  thấy rất rõ dục là nguy hiểm, nên đã tinh  tấn, từ bỏ tất cả, chuyển hóa thân tâm để  được an vui”.(4)

TẦM SƯ HỌC ĐẠO 

“Này các đệ tử, ở tuổi thanh xuân, sức  lực dồi dào, thân thể tráng kiện, mặc dù  cha mẹ không hề bằng lòng, tiếc thương,  than khóc, Ta đã quyết tâm, từ bỏ gia  đình, cạo bỏ râu tóc, đắp áo cà-sa,  xuất gia tầm đạo. Ta như một người đi  tìm chí thiện, con đường an tịnh, giải  phóng khổ đau”. 

: PHẬT NÓI KINH TÁM ĐIỀU TRAI GIỚI – BỘ KINH THỨ 4

 “Này các đệ tử, lúc mới đi tu, Ta đi đến  chỗ ngài A-là-ra Kà-la-ma ở, Ta thưa thỉnh  rằng: “Ngài A-là-ra, ngài tu pháp gì, ngài  chứng đắc gì, ngài dạy những gì?” Ngài A là-ra đã trả lời rằng: “Ta chứng đắc thiền  vô sở hữu xứ”. Ta nêu quyết tâm: “Ngài  A-là-ra có được lòng tin, tinh tấn, chánh  niệm, thiền định, trí tuệ thì Ta cũng vậy  không nên thua kém. Ta đã quyết tâm, tu  tập tinh tấn, đạt được các pháp mà A-là-ra  đã chứng đạt được”. Chẳng bao lâu sau,  Ta đã chứng bằng ngài A-là-ra. Sau khi  kiểm chứng, Ta nhận ra rằng: “Vô sở hữu  xứ không có khả năng đưa đến an tịnh,  thượng trí, giác ngộ, niết-bàn, giải thoát.”  Ta đã mạnh dạn từ bỏ pháp này, tiếp tục  lên đường tìm kiếm tâm linh”. O 

“Tạ từ vị thầy, Ta đã ra đi, tiếp tục tìm  kiếm con đường tối thượng, an lạc tuyệt  đối. Ta đã đến gặp ngài Ud-da-ka Ra ma-put-ta, cầu học chân lý, gọi là “phi  tưởng, phi phi tưởng xứ”. Ta học mau  chóng, thông hiểu tất cả những gì được  dạy. Chẳng bao lâu sau, Ta đã tự chứng pháp ấy như thầy. Ngài Ud-da-ka đã xác  nhận rằng điều Ta chứng được đã bằng  với ngài. Ngài xác nhận rằng: “Pháp mà  tôi biết, hiền giả đã biết; pháp mà tôi  chứng, hiền giả đã chứng. Tôi chứng đạt  gì, hiền giả cũng đạt. Hãy đến nơi đây,  hai Ta hãy cùng chăm sóc hội chúng”. 

“Là thầy dạy Ta nhưng cả hai vị, ngài  A-là-ra và Ud-da-ka, đều xem Ta là “hiền  giả ngang bằng.” Rồi Ta suy nghĩ: “Pháp  Ta đã chứng, bằng hai thầy mình, không  có khả năng đưa đến an tịnh, thượng  trí, giác ngộ, niết-bàn, giải thoát.” Ta đã  mạnh dạn từ bỏ pháp này, tiếp tục lên  đường tìm kiếm tâm linh”.(5)

“Này các đệ tử, chưa được giác ngộ, Ta  đang đối diện sinh, già và chết. Thấy rõ sự  nguy hại của những điều trên, Ta quyết tìm  cầu cái không bị sanh, không già, bệnh,  chết, an ổn tuyệt đối, thoát các khổ ách,  đó là niết-bàn. Biết rõ uế nhiễm dẫn đến  sinh già, Ta không uế nhiễm, không tạo  phiền não, đạt được niết-bàn, hạnh phúc  tối thượng, không gì sánh bằng”.(6) O

SÁU NĂM KHỔ HẠNH 

“Sau khi từ giã hai vị đạo sư đạo Bà la-môn, Ta tu khổ hạnh trong suốt sáu  năm, không ai sánh bằng. Vì ăn quá ít,  tay chân của Ta gầy như cọng cỏ, cây leo  khô héo. Bàn chân của Ta như móng lạc  đà. Xương sống phô bày như một chuỗi  banh. Xương sườn gầy mòn như rui nhà  nát.

Con mắt của Ta không còn long lanh,  nằm sâu hun hút. Da đầu nhăn nheo, như  trái bí đắng ngả màu xám trắng, bị cơn  gió nóng làm cho nhăn nheo. Da bụng  của Ta bám sát xương sống, đen đủi xấu  xí. Khi đi vệ sinh, Ta đã té gục, úp mặt  xuống đất. Lông tóc hư mục, rời khỏi  thân ta.

Ta tự xoa bóp cơ thể của Ta, toàn  thân, tay, chân thật là đau nhức. Từ nhận  thức này, Ta quyết từ bỏ pháp tu khổ hạnh  của Bà-la-môn. Ta rời núi Khổ, đi thẳng  về hướng Bồ-đề Đạo tràng, chuyên tâm  thiền định, suốt bốn chín ngày”.(7)

“Này các đệ tử, rồi Ta suy nghĩ: Ta  đang ngồi dưới bóng mát Bồ-đề, chuyển  hóa ái dục, ly bất thiện pháp, thanh tịnh  tâm ý, chứng thiền thứ nhất, trạng thái hỷ  lạc do lìa ái dục, còn tầm, còn tứ; chứng  thiền thứ hai, trạng thái hỷ lạc do nội định  sinh, không tầm, không tứ, nội tĩnh nhất  tâm; chứng thiền thứ ba trụ xả, lìa các  hỷ lạc, chính niệm, tỉnh giác, cảm nhận  hạnh phúc do biết buông xả; chứng thiền  thứ tư buông bỏ tất cả ý niệm, không còn  khổ vui, thanh tịnh tuyệt đối. Ta nhận ra  

rằng đây là con đường đưa đến an lạc,  giác ngộ, niết-bàn”.(8)

CHỨNG ĐẠO DƯỚI CỘI BỒ ĐỀ  “Này các đệ tử, với tâm định tĩnh, thuần  tịnh trong sáng, không còn cấu nhiễm,  vững chãi, định tĩnh, Ta hướng tâm đến  trí tuệ lậu tận, Ta biết như thật: “Đây là  Khổ đau, thân gồm bốn loại sanh, già,  bệnh, chết; tâm gồm bốn loại yêu phải  chia lìa, ghét phải gặp gỡ, muốn không  mà không được và chấp thân thể”.

Ta  biết như thật: “Đây là nhân khổ bao gồm  tham ái, sân hận, si mê và các chấp thủ.”  Ta biết như thật: “Đây là niết-bàn, an lạc  tuyệt đối, không còn khổ đau, không bị  lay động, không bị thay đổi, bây giờ tại  đây, trên cõi đời này”.

Ta biết như thật:  “Đây là con đường chấm dứt khổ đau  gồm tám yếu tố: tầm nhìn chân chánh, tư duy chân chánh, lời nói đạo đức, hành vi  đạo đức, nghề nghiệp đạo đức, tinh tấn, chánh niệm và thiền định đúng”.

Ta biết như thật: “Đây là phiền não, đây  là nguyên nhân của các phiền não, đây là  con đường kết thúc khổ đau”. Nhờ nhận  thức này, tâm Ta thoát khỏi dục lậu, hữu  lậu và vô minh lậu. Trong Ta khởi lên  một loại hiểu biết: “Ta đã giải thoát”. Ta  biết rất rõ: “Tái sanh đã tận, hạnh thánh đã  thành, việc nên đã làm. Không còn trở lại  sinh tử này nữa”.(9)

TUYÊN BỐ CHÂN LÝ 

“Này các đệ tử, bấy giờ Phạm thiên Sa ham-pa-ti thưa với Ta rằng: “Thưa ngài,  thế giới tiêu diệt, nếu tâm của ngài, một  đức Như Lai, bậc đại giác ngộ hướng  về thụ động, không muốn thuyết pháp”.

Ông đắp thượng y, cung kính cung thỉnh:  “Kính bạch Thế Tôn, hãy ban lời vàng!  Có những chúng sanh ít nhiễm bụi trần  sẽ hiểu chánh pháp, sẽ tu chánh pháp”. 

“Ta đã nhận lời rồi suy nghĩ rằng: “Ta  sẽ thuyết pháp cho ai đầu tiên?” Ta liền  nghĩ đến thầy A-là-ra, nhưng thầy đã  chết bảy ngày trước đó. Ta bèn nghĩ đến  thầy Ud-da-ka, người vừa qua đời mới  ngày hôm qua”. 

“Ta liền nghĩ đến nhóm năm tu sĩ, từng  là bạn ta, khi tu khổ hạnh, hiện đang tu  tại khu vườn Nai đẹp, thuộc Ba-la-nại.  Ta đã lên đường, gặp họ tại đây. Trong  bài Kinh đầu là Chuyển Pháp Luân, Ta  đã khẳng định: “Này các đệ tử, vì không  giác ngộ, không thông hiểu tứ đế, con  người trôi lăn trong kiếp luân hồi.

Này  các đệ tử, cho đến khi nào, chúng Ta  hiểu được bản chất khổ đau, nguyên  nhân khổ đau, niết-bàn hết khổ, con đường diệt khổ, thì đến lúc ấy, tham ái  kết thúc, chuyển hóa sạch nghiệp, không  còn phiền não, dứt sạch nghiệp chướng,  thanh tịnh, giác ngộ, chứng đắc giải  thoát, không còn tái sinh”.(10)

VỊ TRÍ CỦA PHẬT 

“Này các đệ tử, kết thúc sinh tử, Ta đã trở  thành giác ngộ tối tôn ở trên đời này. Ta là  Trưởng thượng. Ta là Tối thượng. Đây là  kiếp sống cuối cùng của Ta. Từ nay trở đi,  Ta không tái sanh theo nghiệp lôi kéo”.(11)

“Này các đệ tử, một người xuất hiện ở  trên cõi đời, có một không hai, không có  đồng bạn, không có ngang bằng, không  có tương tự, bậc tối thượng giữa các loài  hai chân, đó là Như Lai, bậc A-la-hán,  bậc Chánh Đẳng Giác”.(12) O

“Sự kiện sau đây không thể xảy ra: trong  một thế giới có hai đức Phật, Chánh Đẳng  Chánh Giác, không trước không sau, xuất  hiện cùng lúc. Trong một thế giới, chỉ có  một vị chứng đắc Phật quả”.(13) 

: KINH SOI GƯƠNG NHÂN CÁCH – BỘ KINH THỨ 7

“Này các đệ tử, như bông sen xanh,  sen hồng, sen trắng sanh ra trong nước,  lớn lên trong nước, vươn lên khỏi nước,  không bị nước thấm; sanh ra trong đời,  lớn lên trong đời, Ta chinh phục đời,  không bị nghiệp đời làm cho thấm ướt.  Ta là đức Phật, giác ngộ tuyệt đối.

“Ta trở  thành người không bị chi phối bởi tham,  sân, si. Ta sanh ra ở đời, vì hạnh phúc lớn  cho các chúng sinh, vì lòng thương đời,  vì phúc lạc lớn cho loài người này”.(14) O  

MỒI ĐÈN CHÂN LÝ 

Sau khi hóa độ năm bạn đồng tu và năm  mươi lăm thương gia nổi tiếng trở thành 60 vị A-la-hán, Ta đã khuyến khích các  vị như sau:

“Này các đệ tử, hãy siêng  tu hành, vì hạnh phúc lớn cho cả loài  người, vì an lạc lớn, vì thương tưởng đời,  vì các lợi ích và nhiều phúc lạc cho loài  người này. Tất cả các vị đừng đi chung  đường. Hãy đi nhiều hướng, truyền bá  chân lý, toàn thiện quãng đầu, toàn thiện  quãng giữa, toàn thiện quãng sau, cả văn  và nghĩa, mô tả trọn vẹn đời sống thánh  thiện. Như các đệ tử, Ta sẽ đi về U-ru ve-la để truyền chân lý”.(15)  

“Này các đệ tử, xưa cũng như nay,  Ta chỉ nói lên hiện thực khổ đau và con  đường đến kết thúc khổ đau”.(16)  

“Này các đệ tử, Ta không tranh chấp cái  gì với đời, chỉ có cuộc đời tranh chấp với  Ta. Này các đệ tử, mỗi khi thuyết pháp  không nên tranh chấp với ai ở đời”.(17) O  

Này các đệ tử, Như Lai biết rõ: Điều  gì xảy ra thì phải xảy ra, các quả báo trổ  tùy thuộc nhân duyên, nhân duyên của  nghiệp gồm có quá khứ, hiện tại, vị lai.  Như Lai biết rõ con đường tái sanh trong các cảnh giới thuộc kiếp luân hồi. Như  Lai biết rõ thế giới sai biệt, nghiệp cảm  sai biệt, căn tánh sai biệt của các chúng  sanh. Như Lai biết rõ tạp nhiễm, thanh  tịnh; giá trị thiền định, giải thoát, trí tuệ. 

Như Lai thấy rõ các kiếp quá khứ, các  kiếp tương lai của các chúng sinh. Như  Lai chuyển hóa tất cả lậu hoặc, đạt được  thánh trí, giác ngộ, giải thoát. Như Lai  chứng đắc sáu phép thần thông: Phép  mầu biến hóa, phép túc mạng thông,  phép thiên nhãn thông, phép thiên nhĩ  thông, phép lậu tận thông. Như Lai đạt  được bốn không sợ hãi, không sợ ai đến chất vấn điều gì, chất vấn giác ngộ, chất  vấn chướng ngại, chất vấn mục tiêu, chất vấn diệt khổ; bất kể điều gì, ngài  đều thông suốt”.(18) O

ĐỨC PHẬT LÀ NGƯỜI CHỈ ĐƯỜNG “Này các đệ tử, là bậc đạo sư, những gì  Ta làm là vì từ mẫn, mưu cầu hạnh phúc  cho các đệ tử. Này các đệ tử, đây là gốc  cây, đây nơi an tĩnh, hãy thực tập thiền,  chớ có phóng dật, để không nuối tiếc.  Đây lời Ta dạy, hãy gắng thực hành”.(19) “Này các đệ tử, truyền thống tâm linh,  do Ta thiết lập, vô cùng tốt đẹp, có giá trị  lớn, các đệ tử hãy tiếp tục duy trì”.(20)

“Thế Tôn là bậc đã được giác ngộ,  thuyết giảng phương cách để được giác  ngộ. Thế Tôn điều phục, thuyết giảng  phương pháp để được điều phục. Thế Tôn  tịch tịnh, thuyết giảng phương pháp để đạt  tịch tịnh. Thế Tôn vượt qua, thuyết giảng phương pháp để được vượt qua. Thế Tôn  niết-bàn, thuyết pháp phương pháp đạt được niết-bàn”.(21) 

“Này các đệ tử, có một con đường đưa  đến niết-bàn; Như Lai có mặt với tư cách  là đạo sư chỉ đường. Những gì cần dạy,  Ta đã chỉ dạy. Những gì cần làm, Ta đều  đã làm. Trong hội chúng ta, có người  chứng đắc quả A-la-hán, có người đang  cố nỗ lực thực tập. Người chứng, người  không. Ta làm gì được? Như Lai là bậc  chỉ con đường đúng”.(22)

NHỮNG LỜI DI CHÚC 

“Này các đệ tử, bốn mươi lăm năm, rày  đây mai đó, Ta đã truyền bá Pháp và Luật  này, với hàng ngàn bài chân lý cao quý,  cho nhiều thành phần, từ vua đến dân,  từ các Sa-môn hay Bà-la-môn đến người  không đạo, giúp họ từ bỏ các hạnh nghiệp xấu, phát triển thiện tâm, thanh tịnh tâm ý,  hướng đến giải thoát, trí tuệ, niết-bàn. Nay  đã đến lúc thân thể Ta bệnh”.  

“Vào ngày cuối cùng, Phật đang ở tại  rừng cây Sa-la, ngài dạy như sau: “Thân  Ta già bệnh, còm người phía trước, tay  chân rã rời, giác quan yếu dần, da Ta  nhăn nhíu, không còn trong sáng. Này  các đệ tử, sự tình là vậy. Bản chất của  già nằm trong tuổi trẻ. Bản chất của  chết nằm trong sự sống”.(23)

“Này các đệ tử, Ta đã giảng pháp,  không hề phân biệt, không hề giấu giữ  trong tay điều gì. Ta không nghĩ rằng Ta  là lãnh đạo của cả Tăng đoàn, Tăng đoàn  phải chịu hướng dẫn của ta. Ta đã công  bố con đường giác ngộ. Ta nay đã già,  tám mươi tuổi rồi, đến lúc vẫy chào với  cuộc đời này. Thân thể của Ta như cỗ xe già, còn chạy được là nhờ dây chằng  chịt. Khi Ta không còn tác ý đến tướng,  thì các cảm giác sẽ không khởi lên, Ta  chứng, an trú tâm định vô tướng, lúc ấy  thân Ta vô cùng thoải mái”.

“Này các đệ tử, mỗi người tự mình  thắp đuốc mà đi, hãy tự nương tựa, chớ  nương gì khác. Hãy dùng Chánh pháp  làm ngọn đèn soi, hãy dùng chánh pháp  làm chỗ nương tựa, chớ nương tựa khác.  Nương tựa vào pháp được hiểu như sau.  Đối với thân thể, cảm giác, tâm hành và  các ý niệm thì nên quán chiếu, tinh tấn,  tỉnh giác, chánh niệm hiện tiền, nhiếp phục  tham ái, không còn sầu bi”.(24)

GIÃ TỪ CÕI ĐỜI 

“Khi nghe tin Phật đã nhập niết-bàn, dân  tộc Malla tại Câu-thi-la, Tăng, Ni, Phật tử,  tất cả mọi người tâm tư khổ não, đau đớn  

sầu muộn, kẻ thì khóc than với đầu tóc rối,  người thì than thân, bổ nhoài dưới đất. Tất  cả tiếc nuối: “Vì sao Thế Tôn nhập diệt  quá sớm. Thế Tôn đi rồi, pháp nhãn biến  mất khỏi cõi đời này. Thật là uổng tiếc”.  

“Không ai bảo ai, nhiều người gom góp  hương, hoa, nhạc khí, lụa quý… đem về  khu rừng Sa-la, cung kính, tưởng niệm,  làm lễ hỏa thiêu bậc thầy vĩ đại. Suốt  bảy ngày liền, mọi người cúng dường  thân xá-lợi Phật các điệu ca múa, lời hát  thiền vị, tràng hoa, hương liệu, trước khi  đưa tiễn kim thân của ngài đến giàn hỏa  thiêu. Thờ tại của Đông, kim thân của  Phật được vấn lụa quý, gồm năm trăm  lớp, đặt trong hòm sắt. Một giàn hỏa  thiêu tẩm hương liệu quý nâng kim thân  ngài. Hàng trăm tràng hoa được tôn trí  đẹp. Ngài Đại Ca-diếp và năm trăm vị đệ  tử Tỳ-kheo vội vã đường về từ xứ Pava,  đúng một tuần lễ, mới về tới nơi”. O

“Đứng trước cảnh tượng từ giã đạo  sư, các vị tu sĩ chưa chứng thánh quả, đã  không thể ngăn dòng lệ kính tiếc. “Vì sao  Thế Tôn nhập diệt quá sớm. Thế Tôn đi  rồi, pháp nhãn biến mất khỏi cõi đời này.  Thật là uổng tiếc.” Đối với các vị đã chứng  quả thánh, an trú chánh niệm, nội tĩnh suy  tư: “Mọi thứ trên đời đều là vô thường.  Không ai tránh được phút biệt ly này”. 

“Khi ngài Ca-diếp, tất cả mọi người  đảnh lễ Thế Tôn, lửa bắt đầu cháy. Hương  thơm tỏa ngát, cảnh trời xao xát, tâm  người buồn tênh. Sau lễ hỏa thiêu, kim  thân của Phật để lại rất nhiều các viên  xá-lợi, vô cùng quý giá. Xá-lợi của Phật  chia làm tám phần, đựng trong tráp đá,  dành cho tám Vua Phật tử thuần thành,  xây tháp tôn thờ tại nước của họ, giúp cho  bá tánh có dịp chiêm bái”.(25)

 Nam-mô Bổn Sư Thích-ca Mâu-ni Phật (3 lần) O 

: KINH NGHIỆP TẠO SAI BIỆT – BỘ KINH THỨ 10

0 ( 0 bình chọn )

Phật pháp nhiệm màu

https://phatphap-nhiemmau.com
Tổng hợp các nội dung về sách đọc, phim Phật giáo, nhạc Phật giáo, kinh tụng, pháp thoại.

Ý kiến bạn đọc (0)

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Bài viết liên quan

Bài viết mới

Xem thêm